2.12.14
Nếu với tốc độ khai thác hiện nay, trữ lượng than đá của Việt Nam chỉ còn đủ cho 4 năm. Và nếu Việt Nam để bị phụ thuộc vào công nghệ nước ngoài trong năng lượng hạt nhân nói riêng cũng như vào tài nguyên hóa thạch nói chung, thì đó là một dạng “đô hộ” mới. Vậy còn năng lượng tái tạo? 
Ba cô gái Việt trẻ học ở nước ngoài, đều có chuyên ngành cùng “dính dáng” đến năng lượng, môi trường. Họ và nhiều bạn trẻ khác vừa ra mắt bản dịch (có bản quyền) cuốn sách giá trịMệnh lệnh năng lượng bắt buộc: 100% tái tạo ngay bây giờ”, được đăng dần trên một trang blog của nhóm (www.dotchuoinon.com).
Tác giả cuốn sách là Hermann Scheer, người Đức, vừa là một chính trị gia vừa là một trong những người khởi xướng hàng đầu thế giới về năng lượng tái tạo.
Khi dịch cuốn sách, những người bạn trẻ này đã cho rằng: nếu Việt Nam để bị phụ thuộc vào công nghệ nước ngoài trong năng lượng hạt nhân nói riêng cũng như vào tài nguyên hóa thạch nói chung, thì đó là một dạng “đô hộ” mới!
Một Thế Giới trao đổi với Phạm Thu Hường, một trong ba người của ban biên tập cuốn sách trên, đang làm nghiên cứu sau tiến sỹ về Hóa học tại Đại học California, Riverside.
nang luong tai tao
 Phạm Thu Hường
-Một Thế Giới: Bạn nói gì về thực tế nguồn năng lượng của Việt Nam hiện nay?
Phạm Thu Hường: Nguồn tài nguyên năng lượng hóa thạch của Việt Nam hiện nay còn lại rất ít. Dự trữ năng lượng Việt Nam đến cuối năm 2013, theo BP, là những con số thực sự đáng lo ngại cho an ninh đất nước:
Than đá: còn lại 150 triệu tấn, ít hơn 0.05% trữ lượng thế giới, nếu giữ nguyên tốc độ khai thác thì còn kéo dài được 4 năm (hiện tại Việt Nam đã phải nhập than đá để duy trì các nhà máy trong hệ thống cũ).
Dầu thô: còn lại 4.4 tỷ thùng dầu, chiếm 0.3% trữ lượng dầu thế giới, nếu giữ nguyên tốc độ khai thác thì còn kéo dài được 34.5 năm.
Khí thiên nhiên: còn lại 0.6 nghìn tỷ mét khối, chiếm 0.3% trữ lượng thế giới, nếu giữ nguyên tốc độ khai thác thì còn kéo dài được 63.3 năm.
Đối với thực tế các nguồn tài nguyên hóa thạch của Việt Nam, sự chuyển đổi năng lượng không phải là lựa chọn mà là bắt buộc cho an ninh năng lượng quốc gia. Tuy nhiên, sự hạn chế trong trữ lượng nhiên liệu hóa thạch có thể không phải là điều đáng buồn mà chính là cơ hội.
Như Hermann Scheer đã phải đối mặt và phân tích rất chi tiết trong cuốn sách của mình, chính sự hạn chế trong các nguồn tài nguyên hóa thạch này sẽ là động lực để Việt Nam thực hiện việc chuyển đổi dứt khoát hơn, so với những quốc gia khác giàu tài nguyên hơn – họ sẽ phải chịu một lực cản rất lớn từ hệ thống cũ chống lại sự thay đổi. Những quốc gia đó cũng phải chuyển đổi sang năng lượng tái tạo trước khi quá muộn, trước khi gây ra những hậu quả biến đổi khí hậu quá trầm trọng lên môi trường sống toàn cầu.
Một vấn đề không thể chối cãi, Việt Nam không còn nhiều than hay dầu để tiếp tục hệ thống cung cấp năng lượng truyền thống. Để tránh bị đánh lạc hướng sang những những “công nghệ bắc cầu” nguy hiểm không kém, thậm chí còn nguy hại lâu dài, điển hình như điện hạt nhân, chúng ta cần nắm vững “mệnh lệnh chuyển đổi sang 100% tái tạo”.
-Cho rằng điện nguyên tử không phải là giải pháp giải quyết khủng hoảng năng lượng, trong cuốn sách “Mệnh lệnh năng lượng bắt buộc: 100% tái tạo ngay bây giờ”, tác giả Hermann Scheer đã nhận định: phát triển điện nguyên tử chỉ mang lại nguy cơ sạt nghiệp cho quốc gia nghèo, và có nhắc tới Việt Nam, cụ thể là như thế nào?
Đúng vậy, Hermann Scheer đã có dịp đến Việt Nam khoảng năm 2006, và nói chuyện với một số giáo sư vật lý đầu ngành. Ông viết: “tất cả đều tỏ ra quen thuộc với khái niệm điện hạt nhân, không có ai nhìn thấy bất kỳ vấn đề cơ bản nào với điện hạt nhân, và tình trạng kiến thức của họ về năng lượng tái tạo ở một mức độ điển hình của những năm 1970.”
 Vấn đề cơ bản của điện hạt nhân mà Hermann nhắc đến ở đây bao gồm rất nhiều ảnh hưởng tiêu cực lên kinh tế, môi trường, xã hội. Nguy cơ sạt nghiệp đối với các quốc gia đang phát triển như Việt Nam khi đầu tư vào con đường này, do hai yếu tố cơ bản:
(1) giá thành điện nguyên tử không rẻ như người ta tưởng: nếu tính đến hàng tỉ đôla xây dựng cơ sở ban đầu, chi phí tăng lên vài lần trong suốt thời gian xây dựng hàng chục năm và khi đã đầu tư xây dựng thì buộc phải làm đến cùng;
(2) chi phí để xử lý chất thải nguyên tử: cho đến nay vẫn chưa giải quyết được và sẽ còn độc hại trong hàng chục nghìn năm. Đó chắc chắn không phải là di sản chúng ta muốn để lại cho con cháu. Nguy cơ xảy ra thảm họa hạt nhân như chúng ta đã chứng kiến là điều không ai có thể dự báo trước. Và chi phí khắc phục hậu quả không chỉ là vài năm mà là vài chục đến vài trăm năm qua nhiều thế hệ.
nang luong tai tao
 nhà máy hạt nhân có phải là lựa chọn phù hợp cho VN? - ảnh: internet
Trong cuốn sách này, Hermann cũng phân tích thất bại rõ ràng về mặt kinh tế và tài chính của ngành năng lượng điện nguyên tử ngay cả đối với các nước giàu và sở hữu công nghệ tiên tiến nhất thế giới.
Tính đến nay, tất cả các nguồn không phải tái tạo đều không phải là phát triển bền vững, bởi vì chúng chắc chắn sẽ cạn kiệt dần đi theo thời gian: dầu và khí, và uranium cũng vậy. Giá của năng lượng phụ thuộc vào các nguồn cung cấp này cũng chắc chắn sẽ tăng lên theo thời gian bởi quy luật cung cầu. Ngược lại, vì tiềm năng của nguồn tài nguyên năng lượng tái tạo vô cùng lớn, Mặt trời sẽ còn chiếu sáng trong vài tỷ năm nữa, vậy tại sao không tập trung vào nguồn năng lượng dồi dào sẵn có này?
-Về dự án điện hạt nhân của Việt Nam, quan điểm cá nhân bạn như thế nào?
Cá nhân tôi hoàn toàn không ủng hộ dự án điện hạt nhân của Việt Nam, khi xét tới tất cả những mối nguy hiểm trông thấy trước mắt. Như tôi có đề cập một phần ở trên, các thảm họa hạt nhân gần đây đã xuất phát từ các nguyên nhân không thể nào tránh được tuyệt đối:
(1) lỗi kỹ thuật tại nhà máy hạt nhân Three Mile Island (năm 1979, lõi lò phản ứng bị nóng chảy dẫn đến các chất phóng xạ thoát ra môi trường, làm rò rỉ 1,59 petabecquerel (43.000 curie) krypton phóng xạ ra môi trường. Đây là sự cố nhà máy hạt nhân thương mại nghiêm trọng nhất trong lịch sử Hoa Kỳ – PV),
(2) lỗi của con người tại Chernobyl (nổ nhà máy điện hạt nhân Chernobyl năm 1986, được cho là do lỗi của con người. Khối lượng bụi phóng xạ khổng lồ bị phát tán vào khí quyển, ảnh hưởng tới một khu vực rộng lớn của Liên Xô và châu Âu vào thời điểm đó, theo tổ chức Hòa Bình Xanh, có khoảng 93.000 người chết vì bệnh ung thư liên quan đến vụ Chernobyl – PV).
và (3) hiện tượng tự nhiên ở Fukushima (sự cố nhà máy điện hạt nhân Fukushima, Nhật sau trận động đất và sống thần Sendai 2011. Theo cơ quan năng lượng hạt nhân Nhật Bản, khủng hoảng sự cố nhà máy điện Fukushima I là mức 7, mức cao nhất trong thang sự cố hạt nhân quốc tế - PV).
Quá trình vận hành trong nhà máy điện hạt nhân đòi hỏi một sự đồng bộ vô cùng tuyệt đối, mà bất cứ một sai sót nào cũng có thể dẫn đến thảm họa, khiến chúng ta bị phụ thuộc rất lớn vào công nghệ của nước ngoài, một dạng “đô hộ” mới.
Đó là chưa kể đến những gánh nặng về kinh tế và di sản chất thải phóng xạ độc hại để lại đời đời cho con cháu gánh vác, là một điều không thể chấp nhận về mặt đạo đức. Điều quan trọng là chúng ta sẽ để lại cho con cháu chúng ta những gì, sau khi chúng ta đã qua đi.
Những nước đã đi trên con đường nguyên tử như Nga, Mỹ, Pháp, họ khó có thể dừng lại ngay bởi vì các cơ sở vật chất của điện hạt nhân đã được thiết lập. Tuy vậy, xu hướng của thế giới đã rất rõ ràng là từ bỏ điện hạt nhân, chuyển đổi sang 100% năng lượng tái tạo. Tôi hi vọng Việt Nam lựa chọn đi theo xu hướng này, và học hỏi công nghệ và kinh nghiệm từ những quốc gia dẫn đầu như Đức, cần một sự tập trung và đầu tư để đào tạo chuyên gia.
Ngay chính trong lĩnh vực năng lượng tái tạo cũng có rất nhiều các phương pháp khác nhau, chúng ta cần các chuyên gia có đủ khả năng cân nhắc và lựa chọn những phương pháp tối ưu phù hợp với Việt Nam nhất...
(Còn tiếp)
Lê Quỳnh (thực hiện)