14.10.16
Một khảo sát mới đây được hỗ trợ thực hiện thông qua Phòng Thương mại châu Âu tại Việt Nam (EuroCham) và Ban Tăng trưởng xanh (EuroCham GGSC) về đầu tư FDI và giá năng lượng tại Việt Nam, Viện Quốc tế về Phát triển Bền vững (IISD) hoàn thành nghiên cứu này để xác định quan điểm của các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với giá năng lượng, và nguồn cung cấp điện và chính sách năng lượng ở Việt Nam .


Nghiên cứu này cũng đánh giá tác động của chính sách năng lượng hiện hành về năng lực cạnh tranh của Việt Nam. Các kết quả cung cấp cho nhà hoạch định chính sách với các dữ liệu và thông tin để cho phép Chính phủ Việt Nam phát triển một chính sách năng lượng phản ánh nhu cầu và mối quan tâm của thành phần kinh tế quan trọng này. Các kết quả nghiên cứu có được từ một khảo sát chiều sâu với cộng đồng doanh nghiệp nước ngoài tại 3 hội thảo tháng một, cùng với một cuộc khảo sát của 150 công ty và đã được thực hiện trong sự hợp tác với  Văn phòng Việt Nam của khối Thịnh vượng chung Vương quốc Anh, Diễn đàn Doanh nghiệp Việt Nam (VBF) và Viện Quản lý kinh tế Trung ương.

Các nghiên cứu chính được trình bày trên đây cung cấp thông tin quan trọng trong đó có một số, ý nghĩa quan trọng rõ ràng cho chính sách năng lượng của Việt Nam. Dựa trên những kết quả, Ban Tăng trưởng xanh của EuroCham được củng cố trong cách tiếp cận của họ đối với một nguồn cung cấp năng lượng bền vững tại Việt Nam.

Các tác động chính sách quan trọng của nghiên cứu nói trên được nêu tại năm điểm chính:

Khả năng thu hút FDI của Việt Nam là không dựa trên giá năng lượng thấp. Kết quả Phân tích và khảo sát chỉ ra rằng các công ty thường không đầu tư vào Việt Nam vì giá năng lượng thấp kỷ lục. Trong thực tế, các công ty xếp hạng giá điện là yếu tố kém quan trọng nhất của mười yếu tố trong quyết định đầu tư vào Việt Nam. Điều quan trọng hơn trong các quyết định đầu tư của họ là các yếu tố khác như chi phí và nguồn lao động có tay nghề, điều kiện thị trường trong nước và chính sách phát triển của chính phủ. Khi được hỏi để xếp hạng tầm quan trọng của giá năng lượng như một yếu tố cho các quyết định đầu tư (theo mức tăng từ 1-10), 72% các công ty chỉ ra đây là yếu tố đứng thứ 5 hoặc ít hơn.

Nhìn chung, các nhà đầu tư nước ngoài không phải lo ngại về triển vọng của giá điện dần tăng lên. Điều này có thể một phần là do thực tế các doanh nghiệp chi sử dụng tương đối ít về điện. Nghiên cứu cho thấy rằng 90% của các công ty nước ngoài, tiền điện chỉ chiếm ít hơn 10% của tổng chi phí điều hành, với 60% của các công ty chi tiêu ít hơn 5% cho tiền điện. Đa số các công ty cho biết, họ sẽ sẵn sàng để chịu đựng mức giá điện tăng danh nghĩa 15%/năm hoặc hơn trước khi xem xét lại đầu tư trong tương lai, và hơn 65% các công ty được hỏi sẵn sàng chịu duy trì tăng giá điện hơn 10% mỗi năm.

Dựa trên những phát hiện này, chính phủ Việt Nam nên tham vọng hơn trong việc nâng giá điện cho khách hàng công nghiệp lớn. Thứ nhất, các doanh nghiệp đã rõ ràng chỉ ra rằng giá năng lượng không phải là động lực chính của đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Thứ hai, như đã trình bày trong báo cáo này, các doanh nghiệp cũng thể hiện sự sẵn sàng để chấp nhận giá điện cao hơn theo thời gian như một phương tiện quan trọng của việc tăng cường các hoạt động của ngành điện Việt Nam. Điều này cung cấp không gian cho Chính phủ Việt Nam để có quyết tâm hơn trong việc đưa ra mức giá đầy đủ của điện cho những khách hàng sử dụng công nghiệp lớn, mà không phải lo rằng làm như vậy họ sẽ gây ra một phản ứng đầu tư bất lợi đáng kể từ các công ty đa quốc gia.

Các doanh nghiệp đang rất quan tâm tới sự thiếu hụt nguồn cung cấp năng lượng và triển vọng giảm bớt độ tin cậy của nguồn cung cấp, nhiều hơn đáng kể hơn so với viễn cảnh giá năng lượng cao hơn. 65% các công ty này cho thấy họ hoặc hơi không hài lòng hoặc không hài lòng chút nào với cơ sở hạ tầng và nguồn cung cấp năng lượng. Hai phần ba của các công ty tiết lộ thông tin cho rằng họ đã phải sử dụng hệ thống dự phòng 'thỉnh thoảng' hoặc 'thường xuyên'. Hơn nữa, phần lớn (73 phần trăm) của doanh nghiệp nói rằng nguồn cung cấp điện không đáng tin cậy đã gây thiệt hại nhiều hơn để cạnh tranh đầu tư Việt hơn so với triển vọng giá điện cao hơn theo thời gian. Do đó đảm bảo đủ nguồn cung cấp năng lượng nên là ưu tiên hàng đầu của chính sách năng lượng của Việt Nam, cùng với một phong trào lâu dài đối với việc xanh hóa nguồn phát điện. Điều này, tuy nhiên, chỉ sẽ diễn ra với mức giá cao hơn cho điện lưới (để ngày càng cung cấp đủ vốn đầu tư cho EVN), Hợp đồng mua bán điện (PPA) cao hơn để khuyến khích khu vực tư nhân đầu tư các dự án BOT mới, và một khuôn khổ pháp lý cho đầu tư sau này - đặc biệt là năng lượng tái tạo.

Có nhiều cơ hội (và cũng là điều cần thiết) cho các giải pháp có sự đầu tư của khối tư nhân để cung cấp nhu cầu điện năng của Việt Nam. Với cả hai yếu tố không hiệu quả hiện tại của thị trường năng lượng và những khó khăn của EVN trong việc phân bổ vốn đầu tư, đầu tư khu vực tư nhân có thể sẽ cần phải đóng một vai trò ngày càng quan trọng trong việc đảm bảo cung cấp điện đầy đủ tại Việt Nam theo thời gian. Sản xuất điện từ năng lượng tái tạo có vai trò quan trọng để đáp ứng nhu cầu năng lượng ngày càng tăng do khả năng mở rộng của nó trên các khung thời gian ngắn, với năng lượng gió đang được đặc biệt đầy hứa hẹn cho danh mục đầu tư khổng lồ hiện nay (4,4 GW gió đang chờ cơ chế của các dự án đã đăng ký và hiện tại trong bối cảnh chính sách hỗ trợ của chính phủ chưa đủ hấp dẫn. Tuy nhiên, điều này sẽ lại phải đòi hỏi mức giá điện lưới cao, giá hợp đồng mua bán điện PPA cao hơn để khuyến khích đầu tư tư nhân mới, và một khuôn khổ pháp lý thuận lợi cho đầu tư. Hoạt động hướng tới ba kết quả đó nên là một ưu tiên của chính phủ.

Nguồn:
Phòng Thương mại châu Âu tại Việt Nam (EuroCham): http://www.eurochamvn.org/node/14591